06 tháng 5 2013

Doanh nghiệp và tài sản của Doanh nghiệp

Ở khía cạnh pháp lý, Doanh nghiệp được định nghĩa như trong quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Về Tài sản của Doanh nghiệp:
Xét về vấn đề tài sản, dù là của doanh nghiệp hay bất kì cá nhân, tổ chức nào, luôn luôn có hai vấn đề cần quan tâm đó là: tài sản gồm những gì và giá trị của tài sản. Dưới đây sẽ phân tích về tài sản của doanh nghiệp dựa trên hai nội dung này.
1. Tài sản của Doanh nghiệp bao gồm?
Điều 163 BLDS 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Trong đó, giấy tờ có giá là các loại giấy tờ như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu...; quyền tài sản “là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” (Điều 181 BLDS 2005), có thể kể đến như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng...
Đây là cách xác định tài sản chung nhất, có thể áp dụng cho cả các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức. Theo đó, vào bất kì thời điểm nào Doanh nghiệp cũng có thể lập được một danh sách các tài sản của mình.
Tuy nhiên cần nhớ rằng, Doanh nghiệp được thành lập nên để kinh doanh, nên các tài sản của Doanh nghiệp không phải để nhìn, ngắm hay thích thì mua để đó. Mà các tài sản của Doanh nghiệp đều nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nghĩa là các tài sản của Doanh nghiệp đều phải đảm bảo tiêu chí: chi phí hết bao nhiêu, dùng được vào việc gì, trực tiếp hay gián tiếp mang lại lợi nhuận cho Doanh nghiệp...? Dựa trên các tiêu chí đó, tài sản của Doanh nghiệp được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, mà theo đó Doanh nghiệp sẽ thuận tiện hơn trong việc kiểm soát tài sản, xác định lợi ích và giá trị của tài sản. Việc phân loại này đã được quy định rõ trong Tiêu chuẩn số 12 trong Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 219/2008/QĐ-BTC của Bộ tài chính.
Cụ thể, tài sản của Doanh nghiệp được phân loại theo các nhóm sau:
1.1- Tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
  a - Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình; nó bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
- Tài sản ngắn hạn:
Một cách ngắn gọn thì, tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và  tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 01 năm. Này nhá, vàng bạc kim cương đá quý này, các khoản đầu tư ngắn hạn này, hàng tồn kho này v...v...
- Tài sản dài hạn là các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn, bao gồm: tài sản cố định, tài sản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
b- Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ mục đích của mình; nó bao gồm: kỹ năng quản lý, bí quyết marketing, danh tiếng, uy tín, tên hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ hợp pháp (quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, bản quyền, quyền kinh doanh hay các hợp đồng).
1.2- Tài sản lưu động và tài sản cố định.
a- Tài sản lưu động: là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ 01 năm trở xuống (cái 01 năm này là quan trọng nhất để phân biệt với tài sản cố định này).
Ví dụ: nguyên, nhiên, vật liệu, các khoản nợ ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp..
b- Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định. Đó là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và vẫn giữ nguyên hình thái vật chất của nó.
Vi dụ là:
- Nhà cửa, vật kiến trúc;
- Máy móc, thiết bị;
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
- Thiết bị dụng cụ quản lý (máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt);
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm;
- Các loại tài sản cố định khác là toàn bộ các loại tài sản chưa liệt kê vào các loại trên như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.
c- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị của nó và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình do Bộ Tài chính quy định; tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh.
Èo, nghe có vẻ phức tạp ghê nhỉ, nhưng ví dụ cho nhóm này là những loại tài sản như: quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại.
Túm lại là, cần có sự phân loại như vậy Doanh nghiệp mới kiểm soát được chi tiết những loại tài sản mà mình sở hữu, lợi ích mà tài sản đó mang lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, giá trị của tài sản đó lúc ban đầu, rồi sau một thời gian sử dụng thì giá trị của tài sản đó là bao nhiêu (cái này là khấu hao tài sản cố định đó).

2. Giá trị tài sản của Doanh nghiệp:
Phân loại tài sản của Doanh nghiệp đã đủ mệt, mà xác định giá trị tài sản của Doanh nghiệp lại còn nan giải hơn. Đâu phải cứ gom hết tài sản lại rồi đếm là ra giá trị đâu cơ chứ. Này nhé, giá trị thực tế của doanh nghiệp gồm tổng giá trị thực tế của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ sản xuất kinh doanh. Phải là giá trị thực tế chứ không phải giá trị tính theo hóa đơn, chứng từ nhé. Vì sao? Vì tài sản sau khi mua về có phải là vẫn giữ nguyên giá trị như lúc mua vào đâu cơ chứ. Có thứ sau khi mua về thì tăng giá trị (như nguyên vật liệu, như hàng hóa nhập về để bán...), có thứ thì giảm giá trị (như tài sản cố định ấy), có thứ lại lúc tăng lúc giảm (như cổ phiếu...), lại còn giá trị của tài sản vô hình nữa. (Ôi chao!)
Mỗi nhóm tài sản, mỗi loại tài sản lại có cách xác định giá trị khác nhau. Chẳng hạn có loại tài sản có giá trị xác định như trái phiếu; có loại tài sản thì lại xác định giá trị dựa trên giá thị trường của các tài sản tương đương (như hàng tồn kho, bất động sản, vàng bạc...); cũng có loại tài sản lại tính giá trị theo những công thức, phương pháp xác định (như tài sản cố định hữu hình).
Nhìn chung việc xác định giá trị tài sản của Doanh nghiệp hết sức phức tạp, mà để tính toán được thì cần phải nêu tuốt tuồn tuột các loại nghiệp vụ kế toán, thẩm định giá ra cũng không rõ ràng hơn =)) Bài viết này không có tham vọng hướng dẫn kĩ năng xác định giá trị tài sản của Doanh nghiệp. Mà chỉ nhằm đề cập đến việc nếu là bên thứ hai, bên thứ ba... (không phải bản thân Doanh nghiệp) muốn xác định giá trị tài sản của Doanh nghiệp (để đầu tư hay đòi nợ hay chia tách, sáp nhập...) thì dựa vào thông tin, tài liệu nào? Xin thưa là dựa vào Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp (cái này Doanh nghiệp báo cáo mỗi năm 01 lần, độ chính xác tương đối). Hoặc dựa vào kết quả thẩm định giá của tổ chức thẩm định, kiểm toán (cái này đảm bảo độ chính xác).
Tiểu kết: mấy nét cơ bản về tài sản của Doanh nghiệp là vậy. Ấy nhưng có một loại tài sản vô hìnhvô giá (không phải vô giá trị à nha), đúng hơn là luôn được xác định giá trị một cách hết sức tương đối, nhưng lại là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất tạo ra lợi nhuận của Doanh nghiệp, đó là sức lao động. Cái này không thấy được tính là tài sản của Doanh nghiệp.

Không có nhận xét nào: