22 tháng 3 2015

Hợp đồng thử việc

Thông thường, trước khi giao kết Hợp đồng lao động (HĐLĐ) để bắt đầu một mối quan hệ lao động, người sử dụng lao động (NSDLĐ) muốn có khoảng thời gian nhất định để đánh giá khả năng của người lao động (NLĐ), mức độ phù hợp của NLĐ đối với vị trí công việc mà NSDLĐ đang có nhu cầu tuyển dụng; còn NLĐ cũng muốn có cơ hội để tìm hiểu về môi trường lao động mới, điều kiện công việc mà mình sẽ thực hiện. Khi đó, họ thỏa thuận với nhau về vấn đề “thử việc”, tức là NLĐ sẽ làm thử công việc trong một khoảng thời gian nhất định, sau khoảng thời gian đó, nếu hai bên đều chấp nhận thì sẽ tiến hành giao kết HĐLĐ. Mối quan hệ thử việc này cũng đã được Luật hóa khá cụ thể.
Tại khoản 1 Điều 26 Bộ luật lao động năm 2012 (BLLĐ) quy định: “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc”. Theo đó, Hợp đồng thử việc là hợp đồng giao kết giữa NSDLĐ và NLĐ để thỏa thuận về các nội dung liên quan đến việc làm thử  của NLĐ.
Tuy nhiên, đối với HĐLĐ mùa vụ thì không phải thử việc. Tức là, khi NLĐ được nhận để thực hiện một công việc chỉ phát sinh trong một mùa vụ nhất định có thời gian lao động là dưới 12 tháng, thì không phải thử việc, theo đó không giao kết Hợp đồng thử việc.
1. Các nội dung trong Hợp đồng thử việc:
Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 BLLĐ thì Hợp đồng thử việc phải có các nội dung như sau:
- Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;
-  Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;
-  Công việc và địa điểm làm việc;
-  Thời hạn của hợp đồng lao động;
-  Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;
-  Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
-  Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động.
2. Thời gian thử việc:
Điều 27 BLLĐ quy định rất chi tiết về thời gian thử việc. Theo đó, “chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc”. Trong thực tế, nhiều NSDLĐ tìm cách “lách” luật bằng cách, sau khi kết thúc thời gian thử việc thì yêu cầu “gia hạn thời gian thử việc”, nhưng điều này là vi phạm pháp luật, bởi việc kéo dài thời gian thử việc có thể hiểu là việc tăng thêm số lần thử việc, hoặc tăng thời gian vượt quá mức tối đa cho phép như phân tích dưới đây. Hoặc, NSDLĐ ký với NLĐ một HĐLĐ có thời hạn dưới 03 tháng cũng là vi phạm pháp luật. Bởi lẽ, “Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên” (khoản 3 Điều 22 BLLĐ). Mà theo phân tích trên đây, không phải thử việc đối với loại HĐLĐ theo mùa vụ, có thời gian lao động dưới 12 tháng. Cho nên, sau khi thử việc lại giao kết HĐLĐ dưới 03 tháng là vi phạm pháp luật, hoặc là vi phạm đối với việc thử việc (công việc không cần thử việc mà vẫn thử việc), hoặc là vi phạm đối với HĐLĐ (phải là HĐLĐ xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn).
Thời gian thử việc là “Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác”.
Cần lưu ý rằng, mức thời gian thử việc này tham chiếu trên cơ sở trình độ chuyên môn mà chức danh nghề, công việc yêu cầu, chứ không phải tham chiếu trên cơ sở trình độ chuyên môn của NLĐ. Chẳng hạn, NLĐ có trình độ Đại học nhưng ứng tuyển để làm một công việc yêu cầu “trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ” thì chỉ thử việc không quá 30 ngày.
3. Tiền lương trong thời gian thử việc:
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó” (Điều 28 BLLĐ).
Mức lương của công việc đó, được hiểu là mức lương mà NLĐ sẽ được hưởng khi làm việc chính thức sau khi kết thúc thời gian thử việc, có thể là mức lương mà NSDLĐ đã ban hành trước khi tuyển dụng NLĐ vào làm việc, hoặc do NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận với nhau trong quá trình tuyển dụng.

Các quyền và nghĩa vụ khác của NLĐ và NSDLĐ trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật về lao động.